Lọc nước làm mát
Lọc nước làm mát (Coolant Filter) là một loại lọc chuyên dùng trong hệ thống làm mát của động cơ diesel. Duy trì nước làm mát sạch để động cơ luôn được làm mát ở nhiệt độ ổn định, tránh quá nóng gây hư hại, giảm hiệu suất hoạt động. Bảo vệ các chi tiết của hệ thống làm mát.
Hệ thống làm mát bằng nước làm mát
Khi động cơ hoạt động sẽ đốt cháy nhiên liệu để sinh ra động năng. Nhiên liệu được đốt cháy tỏa lượng nhiệt lớn. Nhiệt cũng sinh ra tại các bộ phận ma sát với nhau. Nhiệt độ tăng cao gây các vấn đề như nắp máy bị cong nứt. Cháy gioăng làm rò rỉ khí nén, làm nước làm mát lẫn vào buồng đốt. Piston nở quá mức do nóng sẽ bị kẹt với xi lanh, xước xi lanh. Dầu bôi trơn quá nóng sẽ bị bay hơi làm các bộ phận bị ma sát mạnh, có thể bị bó máy.

Hệ thống làm mát sẽ cần hoạt động cùng lúc với hệ thống nhiên liệu khi động cơ hoạt động để hấp thụ, tản bớt nhiệt sinh ra từ thân máy. Đảm bảo động cơ có nhiệt độ ổn định, không quá nóng gây hư hại và làm việc ổn định.
Bơm nước sẽ được dẫn động bằng dây curoa hoặc trục khuỷu. Hút nước làm mát từ két đẩy nước đi qua thân động cơ bằng các đường ống. Nước sẽ đi vào áo nước (đường dẫn nước nằm bên trong động cơ), bao quanh xy – lanh và khu vực buồng đốt, ống khí thải. Nơi nhiệt tỏa ra nhiều khi động cơ hoạt động. Nước hấp thu nhiệt độ tại đây và nhiệt độ của nước sẽ tăng lên nhanh chóng. Van hằng nhiệt đóng để nước tuần hoàn lại bên trong động cơ (mạch nhỏ) đến khi hấp thụ đủ nhiệt độ. Khi nhiệt độ nước lên đến trên 80°C đến 90°C, van sẽ mở để nước được dẫn về két tản nhiệt.
Nước nóng sẽ chảy qua các đường ống nhỏ trong két để làm nguội. Hệ thống có thể sử dụng quạt làm mát để tăng lượng gió qua két, làm nước giảm nhiệt nhanh hơn. Sau khi được làm mát, nước lại quay về bơm nước và tiếp tục vòng làm mát mới. Chu kỳ làm việc này của nước làm mát sẽ diễn ra liên tục khi động cơ hoạt động. Đảm bảo máy không quá nóng, làm việc ì ạch, bị hư hại các bộ phận và có thể bị ngừng đột ngột.


Dung dịch nước làm mát
Tại sao không thể dùng nước thường để làm mát?
Nước dùng để làm mát cho động cơ không thể hoàn toàn là nước thường (nước máy, nước giếng, nước tinh khiết). Nước bình thường sẽ có nhiệt độ sôi vào khoảng 100°C nhưng động cơ máy khi hoạt động nhiệt độ có thể lên đến từ 95°C đến 105°C. Khi động cơ bị quá nóng có thể hơn 105°C. Nước sôi sẽ dễ sinh ra bọt khí bên trong. Bơm nước không đẩy được hơi làm kẹt nước, nước không thể đi qua làm dòng nước làm mát bị ngắt. Nhiệt độ đóng băng của nước thường là 0°C, két nước, đường ống sẽ dễ bị đông, nứt khi động cơ hoạt động ở môi trường lạnh. Bên trong nước thường chứa các tạp chất, ion khoáng. Các tạp chất có thể hình thành kết tủa, cặn bám bên trong két nước, đường ống, áo nước gây cản trở thoát nhiệt, tắc nghẽn, làm ăn mòn, tạo gỉ sét bên trong.

Nước làm mát động cơ
Nước làm mát dùng cho động cơ (coolant/antifreeze) không chỉ là nước mà là dung dịch kỹ thuật được pha chế từ nhiều thành phần đặc biệt để bảo vệ động cơ hoạt động tốt trong nhiều điều kiện làm việc.
Nước làm mát thường có các chất như:
– Ethylene Glycol (EG) hoặc Propylene Glycol (PG) làm tăng nhiệt độ sôi lên đến 120–130°C. Và giảm nhiệt độ đóng băng của nước xuống từ –20°C đến –40°C.
– Nước đã xử lý (Deionized / Distilled Water) không chứa các khoáng chất, tạp chất. Không gây ăn mòn, hạn chế đóng cặn.
– Chất ức chế ăn mòn (Corrosion Inhibitors) có thể là IAT (Inorganic Additive Technology), OAT (Organic Acid Technology), HOAT (Hybrid OAT). Giúp ngăn chặn ăn mòn nhôm, đồng, thép, gang. Bảo vệ két nước, đường ống, thân máy và các bộ phận khác.
– Chất chống cặn (Anti-scale additives) ngăn cặn hình thành bên trong két nước, áo nước, các đường dẫn, duy trì hệ thống sạch để nước truyền nhiệt tốt.
– Chất bôi trơn (Lubricants) giúp bôi trơn cánh bơm nước, phớt, gioăng để hoạt động hiệu quả hơn, giảm ma sát, kéo dài tuổi thọ các bộ phận.
Mỗi loại động cơ, thiết bị sẽ có chức năng riêng, điều kiện làm việc riêng. Nên chọn loại nước làm mát theo yêu cầu của nhà sản xuất. Tham khảo thông tin về máy qua hướng dẫn sử dụng. Một vài loại máy trên nắp thùng chứa có in thông tin về loại nước làm mát có thể dùng cho máy. Nước làm mát thường có 2 loại, loại đậm đặc và loại đã pha sẵn. Loại nước pha sẵn đã được pha trộn với tỉ lệ phù hợp, có thể châm thêm nước vào máy ngay. Loại nước làm mát đậm đặc cần pha với nước tinh khiết (không dùng nước có ion khoáng, nước máy, nước giếng) theo tỉ lệ dung dịch yêu cầu mới có thể sử dụng.

Cặn trong nước làm mát
Nước làm mát được sản xuất cần thận nên không có cặn bên trong. Nhưng trong quá trình pha chế, bổ sung nước cho máy và sử dụng lâu ngày các cặn bẩn có thể hình thành bên trong nước làm mát. Khi pha dung dịch nước làm mát với nước tinh khiết và thêm vào động cơ. Nước có thể bị lẫn bụi bẩn, tạp chất từ bên ngoài rơi vào. Pha dung dịch bằng nước máy, nước giếng có lẫn ion Ca²⁺, Mg²⁺. Các chất này gặp nhiệt độ cao bên trong động cơ tạo thành cặn đá vôi.


Dung dịch nước bị pha sai tỉ lệ (IAT, OAT, HOAT) hoặc sai loại nước làm mát có thể tạo phản ứng hóa học sinh ra cặn bùn, gel. Các chất phụ gia trong nước làm mát khi sử dụng sau một thời gian sẽ hết tác dụng và phân hủy tạo thành các mảnh cặn nhỏ. Gỉ sét, mảnh kim loại nhỏ rơi ra trong quá trình động cơ hoạt động lẫn vào nước làm mát tạo cặn bẩn màu đỏ nâu.
Lọc nước làm mát
Lọc nước làm mát được dùng để loại bỏ các cặn bẩn sinh ra trong nước làm mát của nhiều động cơ thiết bị, động cơ diesel công suất lớn, máy công trình, xe tải hạng nặng, máy phát điện, máy nông nghiệp…. Lọc có chức năng ngăn cặn bẩn làm tắc nghẽn đường ống, két nước, áo nước, gây hư hại bơm, van hằng nhiệt. Giữ cho nước làm mát sạch đảm bảo hiệu quả tản nhiệt, chống mài mòn, bôi trơn các bộ phận hệ thống làm mát tốt. Bảo vệ các bộ phận của hệ thống làm mát bằng nước tránh khỏi hao mòn, hư hại. Một vài loại lọc nước làm mát còn giúp bổ sung phụ gia vào nước làm mát. Giúp khôi phục phụ gia trong nước làm mát đã bị hao hụt (nếu nhà sản xuất khuyến nghị dùng). Phụ gia trong nước làm mát có chức năng chống ăn mòn, hạn chế tạo cặn, chống cavitation (tạo màng bảo vệ kim loại khỏi hạt bọt khí vỡ gây lỗ thủng).
Cấu tạo
Vỏ lọc: Lớp vỏ kim loại bên ngoài có chức năng bảo vệ lõi lọc bên trong luôn hoạt động tốt ngay cả trong môi trường làm việc khắc nghiệt của động cơ. Chịu được nhiệt độ cao, va đập, hóa chất.
Lõi lọc: Là lớp vật liệu lọc chuyên dụng có chức năng chính là giữ lại các cặn bẩn khi nước làm mát đi qua. Thường là chất liệu cellulose, sợi tổng hợp.
Phụ gia bên trong (tùy loại lọc): Viên nén hoặc lớp tẩm SCA (Supplemental Coolant Additives). Khi nước làm mát đi qua lọc, viên nén sẽ tan ra giải phóng các chất phụ gia vào nước làm mát.
Van điều tiết (lỗ định lượng/ van của lọc nước bypass): Không phải tất cả dung dịch nước làm mát cần đi qua lọc mà chỉ tách một phần nhỏ nước làm mát để lọc. Nên van điều tiết điều khiển lượng nước làm mát đi qua lọc cỡ 5% đến 10%. Không để nước đi quá nhiều qua lọc sẽ làm giảm áp suất nước bên trong hệ thống. Làm giảm hiệu quả làm mát, lõi lọc nhanh bị hỏng.
Gioăng: Gioăng cao su giúp đảm bảo kín khít khi lọc được lắp vào đế. Ngăn rò rỉ nước làm mát tại vị trí lắp lọc khi động cơ hoạt động.
Lưới đỡ, ống trung tâm: Dẫn dòng dung dịch nước làm mát đã được lọc quay lại hệ thống làm mát.
Các loại lọc nước làm mát
Theo nguyên lý dòng chảy
Lọc Bypass
Là dạng lọc nước làm mát chỉ lấy một phần nhỏ từ dòng nước của hệ thống nước làm mát chính để lọc. Khác với van bypass của lọc dầu là xả để dòng nước đi qua lọc mà không bị nghẹt. Van hạn lưu (van điều tiết dòng chảy) của lọc nước làm mát có chức năng điều chỉnh lưu lượng dòng nước đi qua lọc ổn định (khoảng 5% đến 10% dòng nước chính). Khi lọc nước làm mát bị tắc thì lưu lượng dòng nước qua lọc cũng giảm dần. Không làm tắc nghẽn dòng chính, chỉ là không thể loại bỏ các hạt nhỏ lẫn trong nước làm mát nữa. Đảm bảo không ảnh hưởng đến áp suất của dòng nước làm mát chính.
Lọc được thiết kế đặc biệt để lọc nước làm mát ngay khi vẫn còn nóng bên trong động cơ (nhiệt độ từ 80°C đến 90°C có thể hơn). Thường được lắp tại vị trí khi nước làm mát đã đi qua động cơ trước khi đến két nước. Vật liệu lọc thường là cellulose, sợi tổng hợp. Vỏ lọc, gioăng, keo, vật liệu lọc được thiết kế để chịu được nhiệt độ cao và hóa chất. Khi nước làm mát di chuyển tuần hoàn bên trong để làm mát cũng sẽ luôn được đưa qua lọc bypass. Như vậy dần dần toàn bộ dòng nước làm mát sẽ được làm sạch. Lọc bypass thường là dạng lọc tinh, giữ lại các hạt kim loại, tạp chất rất nhỏ lẫn trong nước làm mát. Thời gian thay lọc có thể từ 1 đến 2 năm hoặc sau khoảng 2.000 – 4.000 giờ vận hành (tùy theo khuyến nghị của nhà sản xuất).
Lọc Full – flow (lọc toàn dòng)
Lọc nước làm mát full – flow được lắp trên đường nước làm mát chính của hệ thống. Ngược lại với lọc bypass, 100% toàn bộ dòng nước làm mát sẽ đi qua lọc full – flow. Thường là tại vị trí sau bơm nước, trước khi nước đi vào động cơ hoặc sau khi nước ra khỏi động cơ trước khi vào két nước. Lọc được nước làm mát nguội và cả nước làm mát nóng. Lọc loại bỏ các tạp chất, bụi với kích thước lớn ngay lập tức trước khi đến các bộ phận khác. Bảo vệ bơm, đường ống, động cơ, két nước. Bên trong lọc có van bypass an toàn. Để nước làm mát đi tắt qua lọc khi lọc bị nghẹt, đảm bảo lưu lượng, áp suất nước làm mát ổn định. Cần kết hợp với lọc nước làm mát bypass để cho hiệu quả lọc tốt nhất. Loại bỏ các hạt siêu nhỏ có thể đi qua lọc toàn dòng. Lọc thường được dùng cho các động cơ diesel dung tích lớn, xe tải hạng nặng, máy phát điện công nghiệp, máy công trình, khai thác,…Một số lọc nước làm mát toàn dòng đời cũ có tích hợp phụ gia bổ sung cho nước làm mát. Thời gian cần thay lọc mới thường từ 6 tháng đến 12 tháng hoặc sau 1.000 – 2.000 giờ vận hành, xe đi được khoảng 10.000 – 20.000 km.
Theo chức năng chính
Lọc nước làm mát có phụ gia
Lọc nước làm mát có khoang chứa các viên nén chất phụ gia SCA/DCA bên trong lõi. Khi nước làm mát đi qua lớp vật liệu lọc. Các tạp chất sẽ được lớp lọc giữ lại. Đồng thời nước cũng tiếp xúc với viên nén phụ gia bên trong. Viên nén chất phụ gia tan ra dần bởi dòng chảy nước và nhiệt độ, hòa vào trong nước. Nước sẽ vừa được làm sạch vừa được bổ sung phụ gia để thành nước làm mát có phụ gia dùng cho động cơ.
Lọc có phụ gia thường được dùng tại các động cơ đời cũ, dùng nước làm mát tinh khiết chưa pha phụ gia vào trong. Có 2 dạng lọc tích hợp phụ gia có thể sử dụng là lọc nạp phụ gia ban đầu (pre-charge) và lọc duy trì phụ gia (Maintenance). Lọc để nạp phụ gia ban đầu thì dùng khi vừa thay nước tinh khiết mới chưa có phụ gia. Phụ gia trong lọc sẽ tan nhanh, nhiều để đưa phụ gia vào nước đến mức ổn định. Lọc duy trì có các viên nén tan chậm dần. Bổ sung cho lượng phụ gia thiếu hụt sau một thời gian sử dụng.
Lọc cũng có thể dùng cho hệ thống nước làm mát có sẵn phụ gia SCA/DCA để bổ sung phụ gia bị thiếu hụt nhưng chỉ khi được nhà sản xuất chỉ định cần sử dụng. Lọc tích hợp phụ gia thường là loại lọc bypass để hòa tan dần phụ gia vào nước. Một số ít loại lọc full-flow cũng có phụ gia nhưng không phổ biến.

Không dùng cho động cơ sử dụng nước làm mát đã pha phụ gia sẵn (Premix). Không dùng cho động cơ dùng nước có phụ gia OAT/HOAT/ELC. Hay ngay cả với động cơ dùng nước có phụ gia cùng loại với viên nén là SCA/DCA. Không có yêu cầu từ nhà sản xuất thì không tự ý sử dụng lọc để bổ sung phụ gia. Dư thừa phụ gia, thêm sai phụ gia vào máy có thể gây tạo nhiều kết tủa cặn bên trong nước làm mát. Các cặn, bùn nhớt, chất gel này bám vào các bộ phận hệ thống làm mát, bề mặt động cơ cần tản nhiệt gây tắc nghẽn, ăn mòn, cản trở quá trình tản nhiệt từ động cơ.
Lọc nước làm mát không phụ gia
Lọc có lõi với lớp vật liệu lọc bên trong giữ vai trò hoạt động chính loại bỏ các cặn bẩn, gỉ sét, hạt kim loại khỏi nước làm mát. Không có khoang để viên nén phụ gia. Giữ nguyên nồng độ phụ gia sẵn có. Không dùng cho động cơ dùng nước tinh khiết cần pha thêm phụ gia từ lọc. Không gây dư thừa phụ gia trong khi làm mát, tạo cặn bên trong. Dùng được cho động cơ sử dụng nước làm mát ELC (OAT – Organic Acid Technology) và nước làm mát IAT/HOAT (Inorganic/Hybrid OAT Technology). Có thể là dạng lọc nước làm mát bypass và cả lọc nước làm mát toàn dòng. Được dùng cho động cơ xe tải, máy công trình, công nghiệp, động cơ đời mới.
Theo kết cấu lọc
Lọc nước làm mát dạng Spin-on
Có nghĩa là lọc chỉ cần vặn là có thể tháo hoàn toàn bộ lọc ra khỏi nơi lắp đặt. Bộ lọc gồm vỏ ngoài, lõi, khoang chứa phụ gia (nếu có), van cùng nối liền thành một khối. Lọc kín hoàn toàn nên không thể quan sát tình trạng lõi lọc bên trong. Dễ dàng tháo lắp và ít tốn thời gian. Giảm nguy cơ bụi bẩn bên ngoài lọt vào lọc trong quá trình thay lọc mới. Lọc Spin-on rất linh hoạt, có thể là lọc bypass, full – flow, lọc có chứa viên nén phụ gia và không có phụ gia.

Lọc nước làm mát dạng Cartridge
Lọc nước làm mát dạng cartridge là lọc có lõi lọc rời với vỏ, hộp lọc. Thường được thấy dùng cho các động cơ công nghiệp lớn cố định, động cơ hàng hải. Có thể dễ dàng kiểm tra tình trạng lõi lọc. Giảm rác thải kim loại ra ngoài, vì khi thay lọc mới chỉ cần thay lõi lọc nước làm mát mới. Nhưng quy trình thay lõi lọc mới phức tạp. Có nguy cơ làm bụi bẩn bên ngoài rơi vào lọc. Lọc cartridge phổ biến là lọc nước làm mát bypass (lọc một phần nhỏ nước làm mát) hơn là lọc full – flow (lọc toàn dòng). Lọc cartridge có loại có phụ gia và có loại không. Lọc cartridge có phụ gia thường thấy tại các động cơ diesel hạng nặng như máy phát điện lớn, xe tải hạng nặng, máy công trình,…

Cách thay nước làm mát
Kiểm tra lượng nước làm mát trong bình trước khi châm nước, thay nước. Thường bình chứa nước làm mát có chất liệu dễ quan sát mực nước hay máy có cảm biến báo mực nước làm mát. Khi mực nước xuống thấp hơn vạch cảnh báo, cảm biến báo thiếu nước là lúc cần châm thêm hoặc thay nước làm mát mới.
Chuẩn bị
Kiểm tra lượng nước làm mát của máy. Chuẩn bị dung dịch nước làm mát đúng loại động cơ cần. Nếu nước giảm ít, vẫn còn trong, màu bình thường thì châm thêm nước vào. Nếu nước có màu đục, có cặn, váng dầu, bọt trắng hoặc đã đến thời hạn thay nước thì nên thay nước làm mát mới.
Thay nước làm mát mới
Tắt máy chờ một thời gian để động cơ nguội hẳn. Mở nắp két nước và nắp bình phụ. Xả hết nước làm mát cũ ra ngoài (nếu thay toàn bộ nước làm mát mới). Nếu nước quá bẩn, đổi màu, nhiều cặn, có thể dùng dung dịch chuyên dụng để súc rửa bên trong. Châm nước làm mát vào bình phụ đến mức Max, không đổ nước vượt mức. Nếu máy không có bình phụ, châm nước làm mát vào két nước. Nếu động cơ có bình phụ nhưng két còn quá ít nước làm mát, mực nước trong két đã xuống quá thấp thì phải châm thêm nước làm mát vào thẳng két. Thêm đủ nước thì đóng chặt nắp bình lại.


Kiểm tra lại
Khởi động máy khoảng 2 đến 5 phút để đẩy hết bọt khí bên trong. Mở van xả gió (hoặc nổ máy mở nắp két nước) để đẩy không khí bị kẹt trong đường ống, áo nước ra ngoài. Kiểm tra lại mức dung dịch nước làm mát đã đủ chưa. Nếu không có rò rỉ, khói trắng thoát ra khi khởi động thì hệ thống làm mát đã trở lại làm việc ổn định. Nếu có sự cố như mực nước làm mát giảm nhanh, bọt khí nhiều trong bình phụ, nước nổi màu nâu đục có váng dầu, có mùi bất thường, động cơ vẫn bị quá nóng. Kiểm tra lại không thấy bên ngoài bị rò rỉ nước thì có thể hệ thống làm mát đang bị hư hại ở đâu đó bên trong. Cần xả toàn bộ nước làm mát, vệ sinh, kiểm tra sửa chữa lại và thay dung dịch mới.
Lưu ý:
- Không mở nắp két nước khi động cơ nóng. Áp suất bên trong cao, nước nóng có thể gây bỏng nặng.
- Cần dùng đúng loại nước làm mát cho động cơ. Dùng sai nước làm mát thì nên xả hết nước ra và thay lại nước làm mát phù hợp. Không tự ý pha trộn các loại nước làm mát, pha sai tỉ lên nước làm mát. Vì có thể sinh ra cặn, gel làm giảm hiệu quả tản nhiệt, gây tắc nghẽn.
- Thay nước làm mát mới, súc rửa két nước để loại bỏ cặn theo đúng chu kỳ nhà sản xuất yêu cầu.
- Bổ sung nước làm mát đúng thời điểm để động cơ không bị quá nhiệt. Động cơ hoạt động trong khi thiếu nước làm mát, quá nóng có thể làm cháy, biến dạng các bộ phận động cơ (nắp quy lát, gioăng).
- Nếu cần nước làm mát gấp, có thể châm thêm nước tinh khiết vào nhưng phải thay bằng nước làm mát chuyên dụng ngay khi có thể. Nước tinh khiết, nước cất chỉ là giải pháp tạm thời. Nước dễ sôi nên hiệu quả tản nhiệt không cao, dễ bay hơi làm mất nước nhanh. Nước không có phụ gia nên khiến các bộ phận, bề mặt kim loại bị ăn mòn hư hại, rỉ sét nhanh.
Cách thay lọc nước làm mát
Lọc nước làm mát giữ các cặn bẩn lại bên trong lớp lọc. Nên khi lớp lọc đầy thì hiệu quả lọc sẽ giảm dần và lọc sẽ bị tắc nghẽn. Lọc cần được thay mới định kỳ sau một thời gian sử dụng. Ngoài ra, khi lọc bị bóp méo, phồng, rỉ sét, mùi hóa chất thoát ra từ lọc rất nồng. Nước làm mát bị đổi màu, nước làm mát nhanh bị bẩn dù mới thay nước mới thì cũng là lúc cần kiểm tra thay lọc nước làm mát mới cho máy.
Chuẩn bị
Thùng đựng nước làm mát chảy ra, dụng cụ mở lọc, găng tay, khăn lau, nước làm mát, lọc nước làm mát mới để thay.
Thay lọc mới
Tắt động cơ, chờ một thời gian để máy nguội hẳn. Mở nhẹ nắp két nước để xả áp để mở lọc dễ và nước làm mát chảy nhẹ nhàng hơn. Nếu hơi nóng thoát ra là nước vẫn còn nóng nên đợi thêm một lúc để tiến hành thay lọc. Kiểm tra tình trạng lọc, các bộ phận xung quanh và xem thời gian thay lọc đã đến chưa để xác định thay lọc mới. Nếu có van nước làm mát thì khóa van nước làm mát trước lọc lại.
Lọc dạng spin-on:
Dùng tay hoặc dụng cụ để vặn tháo lọc cũ ra khỏi đế lắp lọc. Đặt thùng, khay đựng nước làm mát đã chuẩn bị bên dưới để hứng nước. Khi thấy ren lỏng, lấy lọc ra từ từ để tránh nước phun mạnh ra ngoài. Để nước làm mát chảy hết ra thùng đựng. Dùng khăn lau sạch để lắp lọc và các vùng xung quanh. Tránh cho bụi, tạp chất từ ngoài rơi vào. Xem gioăng cũ có còn bị dính lại trên đế không. Loại bỏ gioăng cũ, tránh cho khi lắp lọc mới gioăng cũ và gioăng mới chồng lên nhau làm xì nước làm mát. Bôi một lớp nước làm mát lên gioăng để dễ siết, gioăng kín hơn và lọc không bị dính quá chặt khi mở lần sau. Lắp lọc mới vào đế lọc, dùng tay xoay đến khi gioăng chạm đế. Dùng dụng cụ siết lại thêm từ 3/4 đến 1 vòng tùy theo yêu cầu của nhà sản xuất (không cần dùng lực quá mạnh).
Lọc dạng cartridge:
Dùng cờ lê, dụng cụ tháo nắp lọc hoặc vỏ lọc ra khỏi đế (tùy thiết kế). Kiểm tra tình trạng lõi lọc bên trong. Nếu lõi còn mới chưa đến hạn thay thì có thể dùng lại. Nếu hơi bẩn nhưng đã đến hạn cần thay thì nên thay lọc mới. Lấy lõi lọc cũ hoàn toàn ra khỏi vỏ lọc. Hứng nước làm mát chảy ra khỏi lọc vào thùng chứa. Kiểm tra xem gioăng cao su (O-ring) cũ có còn dính trên nắp hoặc trong vỏ lọc không và lấy nó ra, vứt bỏ. Dùng khăn lau sạch vỏ lọc, nắp. Đảm bảo bên trong không đóng cặn, có bụi bẩn. So sánh lọc cũ và mới xem có đúng loại lọc, kích thước không.
Lắp lõi lọc nước làm mát mới vào nắp hoặc vỏ lọc. Đặt gioăng mới vào đúng vị trí, bôi một ít nước làm mát mới lên gioăng. Đặt lõi lọc vào đúng vị trí và bắt đầu siết lại bằng tay trước đến khi cảm thấy gioăng chạm miệng vỏ lọc. Lúc này có thể dùng dụng cụ cờ lê lực (torque wrench) để siết theo đúng thông số momen lực mà nhà sản xuất yêu cầu. Hoặc nếu không có cờ lê lực, có thể siết thêm khoảng từ 1/4 đến 1/2 vòng. Mục đích đảm bảo lọc kín khít nhưng không quá chặt. Không dùng nhiều lực vì nếu vỏ lọc làm bằng nhựa, kim loại mỏng có thể bị cong, móp méo, nứt làm rò rỉ nước làm mát.
Kiểm tra
Kiểm tra lại mực nước làm mát tại két, bình phụ xem có đủ nước không để thêm nước vì có khi lọc mới hoạt động tốt nhưng thiếu nước nên hệ thống có vấn đề. Khởi động để máy chạy trong 2 đến 5 phút. Quan sát lọc, nắp, vỏ lọc, đường ống xem có nước làm mát bị rò rỉ ra ngoài không, lọc có bị móp méo không. Mức nước trong bình có bị tụt nhanh không. Đồng hồ áp suất có đang hiển thị áp suất tại mức cho phép, cảm biến và đèn báo có đang báo lỗi không.
Nếu không có vấn đề xảy ra có nghĩa là hệ thống làm mát đang hoạt động ổn định. Có thể để máy làm việc tiếp một thời gian xong kiểm tra lại lần nữa. Tránh trường hợp hư hỏng, rò rỉ nhỏ giọt chỉ xuất hiện rõ khi động cơ hoạt động thực tế trong thời gian dài hơn.
Nếu có rò rỉ nước làm mát tại lọc, lọc bị biến dạng thì tháo lắp lọc lại hoặc thay loại lọc mới chất lượng tốt hơn. Nếu hư hại xuất hiện tại các vị trí khác thì nên kiểm tra kỹ để sửa chữa đúng chỗ.
Lưu ý
– Không dùng sai loại lọc nước làm mát cho động cơ. Vì sẽ có động cơ dùng lọc bổ sung phụ gia và lọc không phụ gia. Dùng đúng mã của nhà sản xuất hoặc các mã lọc khác tương thích.
– Kiểm tra tình trạng hệ thống làm mát, nước làm mát, lọc nước làm mát định kỳ và ngay khi cảm thấy động cơ máy bị quá nóng. Lưu lại thời gian thay lọc để thay đúng thời hạn, tốt nhất nên thay trước khi lọc bị nghẹt.
– Không dùng lại lọc nước làm mát cũ. Lọc nước làm mát thường được làm từ cellulose, sợi tổng hợp. Vật liệu lọc được cấu thành từ các sợi rất nhỏ. Các tạp chất sẽ được giữ sâu bên trong các lớp sợi. Không thể dùng nước rửa trôi, chà sạch hay dùng khí nén thổi. Nhìn bên ngoài sạch nhưng cặn bẩn vẫn bám sâu bên trong và sợi có thể bị hư hại làm lỗ lọc to ra.
– Nên thay gioăng mới cho lọc, không dùng lại gioăng cũ. Dù gioăng cũ nhìn có vẻ vẫn bình thường, không bị hư tổn gì. Nhưng nhiệt độ cao bên trong động cơ và bị ép trong thời gian dài nên gioăng có thể đã mất đi độ đàn hồi, biến dạng, chai cứng hơn. Không đảm bảo kín khít khi tiếp tục sử dụng. Lọc mới thường thấy được bán kèm theo gioăng. Nên dùng gioăng mới luôn cho lọc để đảm bảo kín khít tốt.
Chọn dùng nước làm mát và lọc nước làm mát
Ưu tiên hơn hết là chọn dùng nước làm mát, lọc nước làm mát theo đúng khuyến nghị của nhà sản xuất (OEM). Chọn sản phẩm đúng theo thông số hiệu suất kích thước, công nghệ phụ gia, công nghệ nước làm mát, phù hợp điều kiện khí hậu, điều kiện hoạt động của máy.
Nước làm mát thuộc các thương hiệu uy tín thường đã được kiểm định, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Trên bao bì ghi rõ công nghệ phụ gia của nước, thành phần tỉ lệ khi pha nước. Có thông số về phụ gia chống ăn mòn, chống cặn, ghi rõ nhiệt độ sôi, đóng băng của nước. Thời hạn sử dụng khuyến nghị của nước, cần thay nước mới.


Lọc nước làm mát của thương hiệu uy tín thường sẽ có thông tin cụ thể về thông số, hiệu suất lọc, vật liệu lọc trên catalog, website của hãng. Có thông tin liệt kê các mã lọc tương ứng có thể thay thế, loại thiết bị động cơ có thể dùng lọc. Sản phẩm được đóng gói chỉnh chu. Bên ngoài lọc có logo rõ ràng, suất xứ, có thông tin về lọc, một vài lọc có tin mã OEM thay thế phù hợp, hướng dẫn lắp lọc.
Lọc đóng vai trò quan trọng làm sạch nước làm mát, kéo dài thời gian sử dụng, duy trì hiệu quả nước làm mát. Bảo vệ cho các bộ phận hệ thống làm mát. Nếu dùng lọc chất lượng kém, các bộ phận của hệ thống sẽ nhanh chóng bị hư hại nặng. Chi phí để sửa chữa, thay mới luôn cao hơn rất nhiều so với chi phí mua lọc tốt.
Chọn mua nước làm mát, lọc nước làm mát từ các thương hiệu uy tín được tin dùng nhiều trên thế giới như Donaldson, Fleetguard, Baldwin,… tại Công ty Thiên Mã để đảm bảo mua được sản phẩm chính hãng, chất lượng cao dùng cho động cơ. Công ty luôn sẵn sàng tư vấn chi tiết về các loại lọc, nước làm mát và cung cấp các chứng minh sản phẩm chính hãng theo yêu cầu của khách hàng.
